Friday, June 19, 2009

TẠ TỘI


Rừng lại gọi ta về trong tủi nhục
Núi thâm u trơ đá , lạnh sương mai
Xưa chinh y, nay cơm tù , áo ngục
Đoạn trường mang cay đắng nối u hoài .

Nắm cơm hẫm mỗi ngày hoà với muối
Nuốt nghẹn ngào trái khổ , nén buồn rơi
Rừng độ lượng , cho ta mầm dinh dưỡng :
Lá tàu bay , đọt dương xỉ , cầm hơi .

Đau như thể lửa thiêu trong lồng ngực
Nhói từng cơn như máu rỉ buồng tim
Vì tài hèn , sức mọn phải lặng im
Cho định mệnh trói tay vào lịch sử .

Thân cải tạo , trên đầu treo án tử
Đời tàn binh, cuộc sống đếm từng ngày
Sá gì vắt, muỗi mòng , hay thú dữ
Chỉ thẹn lòng không " da ngựa bọc thây " .

Mỗi nhát cuốc khai đất hoang mở lối
Là tiếng lòng dội mãi những đau thương
Tổ Quốc ơi , xin cúi đầu tạ tội
Vì sa cơ nên để mất quê hương.

Huy Văn.
(Tặng DƯƠNG HỒNG PHONG, TRẦN THIỆN VIỆT va HOÀNG CÔNG LỰC
để nhớ Nhà 2, Trại 4, HT /TA 14)

THÂN TA VẪN NỢ TRIỀN MIÊN


30 năm ! Đã 30 năm !
Thời gian trôi lặng lẽ, âm thầm
Ta vẫn gò lưng ,lầm lũi bước
Như hôm nào vừa mới hóa thân.
Ta hóa thân ta thành cỏ rác
Sau một năm cuốc đất , phá rừng
Một năm dâu bể và tan tác
Ngày ra tù , Trời , Đất rưng rưng.
12 năm thắp từng ngọn đuốc
Soi bóng đời ta , như bóng ma
Biển lửa hôm nào ta nhập cuộc
Vẫn cháy râm rang cõi ta bà.
Náng Hè thiêu đốt dòng hận sử
Mưa Thu lã chã giọt vắn, dài
Chớp mắt đã già thân lữ thứ
Chuyện vá trời biết tỏ cùng ai?
Nơi xứ người, cơm no, áo ấm
Mà sao lòng khắc khoải, chưa yên
Tâm còn động ,tình còn u uẩn
Bởi thân ta vẫn nợ triền miên.
Nợ xương máu những người đã khuất
Nợ núi sông trả mới nửa mùa
Nợ chồng nợ ! Đời trôi tất bật
Thẹn lòng khi nhớ chuyện xa xưa.
Huy Văn

CHUYẾN HÀNH QUÂN ĐẦU ĐỜI



Theo đơn vị hành quân vùng Châu Đốc
Mùa nước lên, lúa sạ ngập đầy đồng
Đi tìm giặc chỉ thấy toàn lũ chuột
Thèm chất tươi, thịt nướng thật ấm lòng .

Ngày ướt vớ, đêm mang giày ngủ võng
Sáng, trưa, chiều, tối cũng lấm bùn hôi
Đêm chờ sáng, Poncho trùm chống muỗi
Ướt triền miên, đời lính cực thì thôi !

Ngồi "Cua sắt" vượt rừng tràm, ruộng lỡ
Qua Tịnh Biên, Vĩnh Tế, xuống núi Dài
Rừng Thất Sơn một thuở đẹp liêu trai
Nay xơ xác, hoang tàn, trơ đất đá .

Máu lại đổ trên bụi cây, khóm lá
Đêm đổi quân, ngày đánh chốt, phá kiềng
Pháo, đạn, bom, mìn bẫy nổ liên miên
Địch cố thủ, hạ quyết tâm chống đỡ .

Chuẩn Uý "sữa" thét gào cho bớt sợ
Miệng "Xung phong!" mà bụng thắt từng hồi
Như khinh binh : cũng ăn đứng ngủ ngồi
Ôm lựu đạn thức trắng đêm trám tuyến .

Mùi tử khí theo khói đưa ,lửa quyện
Xác phơi mình chờ đêm xuống mang đi
Bài vọng cổ. Trời ơi ! Ai cất tiếng !
Xuống câu Xề nghe não nuột lâm ly !

Bịch gạo xấy một tuần chưa nhai hết
Thuốc vàng tay, cổ rát, nứt môi khô
Máu còn rơi, người còn quấn Poncho
Ôm ghì súng, mắt cay nhoà mỏi mệt.

Rồi cũng xong đợt hành quân gian khổ
Mừng cho ta, buồn cho kẻ không may
Tạm lìa xa chốn bom rơi, đạn nổ
Chào Thất Sơn, ta xuống núi hôm nay.

(Núi Dài, Thất Sơn, Châu Đốc Tháng 10-1973)

CHIỀU QUA VÀM CỐNG


Buổi chiều , mưa đổ trên sông vắng
Công voa dừng lại đợi chuyến phà
Bến Bắc chập chờn trong sương trắng
Một dòng trăn trở đục phù sa .

Chiều qua sông thoáng buồn se sắt
Mưa thấm Poncho , lạnh cõi lòng
Lạnh tràn lên mắt , lên thép súng
Lính trẻ xa nhà nhớ viễn vông .

Ta qua sông . Thì đang qua sông !
Mây mù giăng lối , trắng mênh mông
Mưa đọng hạt mềm trên nón sắt
Từng giọt rơi thầm vào hư không .

Con đò đẩy ngược để thả xuôi
Chòng chành sóng vỗ , lục bình trôi
Lính cũng phong trần trên vạn lối
Bềnh bồng như đám lục bình thôi !

Đường ra mặt trận vùng châu thổ
Mang dấu phù sa , lấm đất màu
Giày saut lết bết , mưa lầy lội
Mỗi bước chân qua , một nỗi sầu .

Tuổi trẻ thở dài vì chinh chiến
Chiều qua Vàm Cống thoáng chạnh lòng
Bên bồi , bên lở , sông vẫn đục
Cho đến bao giờ nước lại trong ?

(Tặng Khóa 57 Rừng Núi Sình Lầy)
HUY VĂN
(Trên đường vào Chi Lăng, Thất Sơn)10-1973

NHẬP TRẬN


Đường vào Nông Sơn hoang tàn mộ địa
Dấu ấn binh đao, lửa đạn ngút trời
Tử khí chập chùng giăng tỏa nơi nơi
Chờ nhập trận, Lính đăm đăm tay súng.

Hòang hôn trải mù sương vào thung lũng
Hay lửa thù đang thả khói tang thương?
Lệnh thẩm quyền: chờ bóng tối dần buông
Sẽ đột kích, phá kiềng, và diệt chốt.

Bạn cố thủ trên chiến hào núi Một
Chờ viện binh từng đợt đến giải vây
Gần mà xa khi khóm lá, bụi cây
Mang dấu vết địch quân đang ẩn nấp.

Ngăn tiếp viện, pháo địch rơi dồn dập
Lưới tử thần, lửa hỏa ngục bủa vây
Súng nổ dòn: lại chạm địch đâu đây
Theo “ Cua Sắt “, Lính từng hàng tiến bước.

Khu kỹ nghệ phồn vinh bao năm trước
Giờ ngổn ngang gạch vụn, đá rêu phong
An Hòa ơi! Hoang phế đến chạnh lòng
Nhớ quá đỗi , thời an bình, thịnh vượng!

Vượt đồi sim, bám địa hình, định hướng
Tháo ba lô, dàn tuyến, rải hàng ngang
Đêm dần buông, mờ ảo dáng ngụy trang
Lính chong súng, sẵn sàng chờ đột kích.

Đất tung tóe: pháo đạn cày tuyến địch
Giờ tử sinh, thời gian đếm trong lòng
Đèn cầy (*) thắp sáng trời đêm: hiệu báo!
Lính nhoài người vượt tuyến, thét : “ Xung Phong! “

HUY VĂN

Tuesday, June 16, 2009

Nha Trang _ Ta gặp lại em.


Ta trở lại Nha Trang

Ta về thăm Đồng Đế
Ba mươi sáu năm từ khi rời xa quân trường mẹ
Ta về đây với bao nỗi bồi hồi
Đứng trước cổng trường, nhớ kỷ niệm buồn vui
Nhớ đồng môn,

nhớ bạn bè,

nhớ chiến hữu ...

Nhớ ngày di hành, nhớ đêm nằm gác
Nhớ khu chiến thuật, nhớ bãi bắn, nhớ đoạn đường chiến binh
Nhớ bãi “ruồi” rù rì, nhớ bãi tiên, nhớ ba làng,
Nhớ bánh mì đường, nhớ canh cá mối

Ta đi lại vài đoạn đường lúc trước
Nhớ những lần chinh phục đỉnh hòn khô
Trong tình cờ ta gặp được em,
Một đuôi đạn đồng rỉ sét
Em là chứng tích của một thời oanh liệt
Đã làm nên những trang sử hào hùng

Có những thằng đỏ lon
Có những thằng nằm xuống
Cho tự do,

Cho tổ quốc

Cho dân chủ

Cho ấm no

Nhưng hôm nay, ta trở lại chốn xưa
Bằng thân phận một người không tổ quốc
Quân trường ấy, bây giờ thay chủ
Ta ngậm ngùi, lệ ứa ướt hàng mi
Dưới chân ta, viên đạn cũ đợi người
Em nằm đó nhìn biển dâu, thay đổi
Anh không còn “ngàn năm thao diễn nghỉ”
Em vẫn còn “xõa tóc đợi chờ ai”

Nha Trang, chân bước ngập ngừng
Mênh mông biển cả, chập chùng núi non!

Lê Văn Thắng
Nha Trang 6/2009

The Beret