Friday, April 10, 2009

NON PHẦN TƯ THẾ KỶ


T-N-T

Anh vào Nam với danh từ hoa mỹ
Giải phóng quê hương, chân lý cứu dân lành
Thanh bình rồi nhưng phải thế không anh
Hay xương máu để tranh giành cơm áo?

Anh vào Nam vét vơ từng chén gạo
Của mẹ già tần tảo nuôi con
Để trẻ thơ dòng lệ chảy lăn tròn
Để ông lão mõi mòn manh áo rách

Anh vào Nam với danh từ trong sạch
Đôi dép chẵng lành dám rạch trường sơn
Đường dốc Tam Biên manh áo vai sờn
Đường Số Chín từng cơn mưa giá bấc

Hơn ba mươi năm, anh nằm gai nếm mật
Từng tuyến thông hào, xương chất lại thành non
Từng hố bom, máu lệ chảy đang còn
Vì đại pháo, AK, hầm chông bãi chết

Hơn ba mươi năm anh dày công thêu dệt
“Cách mạng khoan hồng, cách mạng yêu thương”
Dân Việt nam đau khổ trăm đường
Nghìn nắm mộ mùi hương còn nghi ngút

Hơn ba mươi năm anh dày công mua chuộc
Từng tốp dân nghèo bắt buộc phải hy sinh
Xin dừng tay! Nối lại chút thâm tình
Chắc anh hận vì thấy mình phi nghĩa lắm!

Từ Bắc vào Nam với Trường sơn vạn dặm
Anh đánh ai? Hay máu thắm da vàng?
Đạn AK, dân Việt phủ trời tang
Rừng đại pháo hàng ngàn thây ngã gục

Chúng tôi chết, rồi các anh cũng chết
Nhưng ngày mai lịch sử dệt căm hờn
Gọi anh về đối diện với gian sơn
Chân run rẫy bàn tay chưa ráo máu

Hãy dừng lại! Sau bao nhiêu lần đau xót
Nếm mùi hương thấm ngọt của lương dân
Để máu xương không còn chảy bao lần,
Ngoảnh mặt lại, ngót phần tư thế kỷ...

Cơn buồn dỉ vãng .


Tháng tư đen tôi làm người bỏ cuộc
Bỏ sau lưng bè bạn với người thân
Những chiến trường mà tôi đã bước chân
Chỉ còn lại bóng mờ trong hư ảo

Tháng tư đen tôi không còn khoác áo
Màu lá rừng mùa xuân nở thắm hoa
Nhớ cổng trường An Mỹ đợi em qua
Ngày về phố Bình Dương hồn rộn rã

Tháng tư đen nghe nóng như mùa hạ
Lữa đạn thù vở vụn đất quê hương
Đạn pháo rơi cày xéo những con đường
Nên không có em về trong nổi nhớ

Tháng tư đen cơn mộng đầu tan vỡ
Xa em rồi là mất một tình yêu
Những đêm dài trong kiếp sống cô liêu
Tôi thức giấc nhớ cơn buồn dỉ vãng .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Monday, April 6, 2009

Tháng tư nhớ nhà .


Tháng tư ngày di tản
Xuống tàu vượt đại dương
Tôi làm dân tị nạn
Xứ người là quê hương

Tôi không còn chiến đấu
Để bảo vệ quê nhà
Giờ nhọc nhằn cuộc sống
Nuôi gia đình phương xa

Những ngày trên đất lạ
Khác ngôn ngữ màu da
Cũng phố phường xa mã
Nhưng không gần mẹ cha

Mùa xuân trên Bắc Mỹ
Ba mươi bốn năm qua
Tôi không người tri kỹ
Tháng tư nghe nhớ nhà

Lê Chiến khóa 8/72

Friday, April 3, 2009

Phước Tuy Và Những Tháng Ngày Cuối Cùng




Khoảng giữa tháng 4 năm 1975 trong cuộc hành quân giải tỏa Long Khánh, chi đội 3 của tôi tăng phái cho chi đoàn 2/22 chiến xa, dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Thiếu tá Hà ngọc Bé, nằm án ngử phía bắc Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số, phía tây Quốc Lộ 20 vài cây số trên đường về Dầu Giây , qua nhiều cuộc đụng độ với Sư Đoàn 341 CSBV trên mặt trận nầy đã gây nhiều tổn thất cho cả hai bên, cho đến chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 ,CĐ 2/22 CX di chuyển về Biên Hòa, qua khỏi rừng cao su bên chợ Trảng Bom vài cây số thì tôi được lịnh ở lại, để chờ đợi đến sáng hôm sau thì chi đội của tôi sẻ trở về chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ , khi chi đoàn di chuyển qua vùng nầy trên đường về dưởng quân ở Biên Hòa. Sau hơn một tuần lể giao tranh với CSBV để yểm trợ cho Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh tham chiến tại ngả ba Dầu Giây, chi đội tôi chỉ còn vỏn vẹn 2 thiết vận xa M113 và 9 kỵ binh, di chuyển khoảng 2 cây số về hướng bắc QL 1 và bố trí phòng thủ đêm tại một mảnh đất trống bên con đường đất đỏ .Trong suốt đêm đó , CSBV chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công về Sài Gòn đã di chuyển nhiều chiến xa, quân xa với đại pháo và lực lượng bộ binh về hướng Biên Hòa, trước vị trí phòng thủ của chi đội tôi không xa lắm, hầu như không ai được ngủ yên trong đêm đó , tiếng động của xe cộ, chiến xa , tiếng người và ánh đèn trong đêm tối càng gia tăng nổi lo lắng trong thâm tâm của mọi người , sau những ngày dài trong chiến trận từ giữa tháng 3 năm 1975 hành quân vùng Gò Dầu Hạ trên đường về Tây Ninh , đầu tháng 4 năm 1975 về Truông Mít , quận Khiêm Hanh cho đến cuộc hành quân giải vây Long Khánh , ai cũng chưa có một ngày nghỉ ngơi hay về phép thăm viếng gia đình .
Trưa ngày 25 tháng 4 tôi được lịnh di chuyển ra QL 1 để tháp tùng CĐ 2/15 TK, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô duy Lượng lên đường về Phước Tuy, sau khi ăn Tết 1975 đây là lần thứ hai tôi trở về chi đoàn sau hơn 2 tháng tăng phái cho CĐ 2/22 CX , Chi đoàn di chuyển đến cuối thành phố Biên Hòa rẻ vào quốc lộ 15, qua căn cứ Long Bình rồi trường Thiết Giáp, Long Thành, nơi tôi đã có một thời gian thụ huấn sỉ quan căn bản Thiết Gíap ở đó vào cuối năm 1973 , chi đoàn đóng quân tại Phú Mỹ một ngôi làng nhỏ trên QL 15 giửa chi khu Long Thành và tỉnh lỵ Phước Tuy chiều hôm đó , trong lúc nầy Lử Đoàn I Nhảy Dù sau trận giải tỏa Long Khánh di tản về Phước Tuy và có nhiệm vụ bảo vệ QL15 từ Long Thành về Bà Rịa , nên TĐ 8 Nhảy Dù đêm đó là đơn vị tùng thiết cho CĐ 2/15 TK , đây là lần đầu tiên tôi đi hành quân với các anh hùng mủ đỏ , mà tôi chỉ từng nghe ca ngợi trong những bản nhạc trên đài phát thanh hay trên màn ảnh truyền hình trong những lần về phố ngồi uống cà phê , từ xa về hướng đông là thị xã Bà Rịa , hướng tây là trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức , đại pháo của CSBV vẩn vang rền trong khi các đại bác 37 ly phòng không của địch, như màng lưới lữa trong bầu trời đen tối đuổi theo các phi cơ Hỏa Long trong phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn còn chiến đấu trong tận cùng tuyệt vọng , tôi vùi đầu trong giấc ngủ , tin tưởng vào các chiến sỉ Nhảy Dù sẻ bảo vệ phòng tuyến đêm nay và hy vọng ngày mai có thêm một ngày bình yên trong lữa đạn .
Ngày 26 tháng 4 tôi được hai ngày phép về Sài Gòn , trong khi chờ đợi Thiếu Úy Huỳnh, chi đội trưởng chi đội 2 mản phép trình diện đơn vị để thay thế tôi trong lúc đi phép , tôi ghé uống cà phê sáng trong ngôi quán nhỏ bên đường , trong lúc một xe M113 của chi đội 2 nằm gần chợ và vài kỵ binh ngồi uống bia kế bên , đến trưa mà Th/Úy Huỳnh vẩn chưa trở lại , tôi ghé vào xe chi đội 2 uống vài chai bia để giết thì giờ trong nôn nả đợi chờ , cho đến 5 giờ rưởi chiều hôm đó Th/Úy Huỳnh mới trở lại đơn vị , tôi suy nghỉ nếu về tới Biên Hòa thì đã tối sẻ không có xe về Sài Gòn được, nên tôi xin phép Đại Úy Lượng cho tôi ở lại đêm nay và sáng sớm ngày mai tôi sẻ đi phép về Sài Gòn , trời vừa sụp tối thì SĐ 304 CSBV bắt đầu tấn công vào trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, SĐ 325 CSBV tấn công chi khu Long Thành , khoảng 8 giờ tối hôm đó trong tiếng đạn đại pháo , đại bác phòng không và các loại vủ khí vang rền khắp mọi nơi của Cộng quân, chi đoàn 2/15 TK và TĐ 8 Nhảy Dù di chuyển trong đêm tối vào thị xã Bà Rịa cùng lúc với SĐ 3 CSBV từ mặt trận Long Khánh kéo về .Chi đội 1 và chi đoàn phó là Trung Úy Ngô Bính nằm đầu phố án ngữ về hướng bắc , chi đội 3 nằm giửa phố với xe số 32 của tôi quay mặt về hướng bắc và xe số 34 nằm sau xe tôi cách 100 thước án ngữ phía nam , chi đội 2, 4 và bộ chỉ huy CĐ 2/15 TK án ngử ở cuối phố về hướng đông .Sau khi sắp xếp phiên gác đêm và kiểm soát chung quanh vị trí của hai thiết vận xa trong chi đội ,tôi đi ngủ sớm để chuẩn bị ngày mai di chuyển lên tuyến đầu đối mặt với quân thù , trong lúc nầy có lẻ đã rời mặt trận Long Khánh di chuyển về Phước Tuy .
Sáng sớm ngày 27 tháng 4 năm 1975 , tôi nhìn thấy tận mắt cảnh hoang tàn của thành phố nầy lần đầu tiên , các đường phố không một bóng người , những cuộc pháo kích của địch vài ngày trước đây đã để lại nhiều đổ nát , không biết người dân ở đây đã di tản về đâu , hay tạm trú trong những căn hầm dả chiến với niềm hy vọng được gìn giữ tài sản của ông cha để lại .Tiếng súng và đạn pháo bắt đầu vang dội phía bắc nơi chi đội 1 án ngử tôi lên máy để biết được CSBV bắt đầu tấn công bằng pháo binh , chiến xa và bộ binh vào tuyến của Thiết giáp và Nhảy dù , tôi cho chi đội lên xe sẳn sàng ứng chiến , lúc nầy quân đội CSBV đã vào trung tâm thành phố và một chiến xa T54 đã chạy vào trên đường phố bên trái tôi chừng 200 thước , nhìn về trước mặt tôi vài trăm thước cộng quân tràn ngập trong các ngôi nhà và đường phố , tôi xử dụng hỏa tiển M72 và khai hỏa đại liên 50 để ngăn chận bước tiến của địch, khi nhận được lịnh mở đường cho chi đoàn trở ra QL 15, tôi vừa lùi xe ra đến ngả tư thì đại bác của địch trên chiến xa T54 khai hỏa cùng lúc với đại bác 90 ly , hỏa tiển M72 của lực lượng Nhảy Dù , may mắn cả hai chiếc M113 không bị hư hại giữa hai làn đạn của bạn và thù . Từ giữa phố ra QL 15 phải qua ngôi chợ nằm bên tay phải ,CSBV bố trí trong chợ với hỏa lực rất mạnh , chi đội đã xử dụng 2 đại liên 50 , 2 đại liên 30 và tất cả vủ khí cá nhân còn sót lại vừa bắn vừa di chuyển qua ổ phục kích nầy , ra đến QL 15 về hướng đông chừng 2 cây số thì chi đội án ngử tại phía tây cầu Cỏ May , chờ đợi chi đoàn di tản qua phía đông bên kia cầu . Chiều hôm đó chi đội 2 tử thủ tại chân cầu , chi đội 3 của tôi cách đó vài trăm thước , sau đó là chi đội 1[ tổn thất khá nặng trong cuộc tấn công của CSBV sáng hôm đó] BCH chi đoàn và chi đội 4 nằm dọc theo QL 15 về hướng đông cầu Cỏ May , sau khi Đ/Úy Ngô duy Lượng ra lịnh cho Công binh chiến đấu phá nổ cầu để ngăn bước tiến của CSBV , ban đêm địch xử dụng đặc công bò qua cầu tấn công , chi đội 2 và binh sỉ của TĐ 8 ND chống cự mảnh liệt , địch xử dụng ghe ,xuồng chuyển quân dọc theo bờ sông qua phòng tuyến của CĐ 2/15 TK và TĐ 8 ND để tấn công từ phía nam và bắc QL 15, sau vài giờ tấn công khi tiếng súng vừa ngưng , một số binh sỉ của Thiết Giáp và Nhảy Dù bị thương nhưng không được di tản.
Sáng ngày 28 tháng 4 , địch quân tiếp tục pháo kích vào vị trí phòng thủ của chi đoàn và tìm cách vượt qua cầu Cỏ May, chi đội 2 và các binh sỉ Nhảy Dù vẩn còn chống trả với địch ở chân cầu Cỏ May, đại pháo của CSBV càng lúc càng gia tăng và càng đến gần, một trái đại bác 130 ly nổ bên cạnh xe tôi lúc di chuyển qua một vị trí khác đã làm thương vong vài binh sỉ Nhảy Dù và 2 xạ thủ đại liên trong xe tôi , tôi liên lạc xin di tản thương binh nhưng được lịnh chờ đợi trực thăng tải thương từ Lử Đoàn III Kỵ Binh đồn trú tại Biên Hòa , Suốt ngày nầy trên không trung các trực thăng CH-47 Chinook tiếp tục bay về hướng biển đông , tôi hy vọng có lần nào đó họ sẻ xuống đây để bốc đơn vị mình về Biên Hòa , tôi mơ ước ngày phép về Sài Gòn , nhớ ngày lang thang trên đường Nguyển Du đợi chị Thể ,chị Hội ,chị Loan Anh giờ tan sở ở Bộ Phát Triển Sắc Tộc, ngồi uống ly cà phê ngọt ngào đếm lá me bay , giờ đây đếm từng chiếc trực thăng bay qua ngang đầu , không hề hay biết đây là lần di tản sau cùng của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam . Chiều hôm đó chiến trường lắng dịu, không có tiếng súng thù, không đạn pháo rơi nên cái im lặng của trận địa làm mọi người ngộp thở, có lẻ CSBV chờ đợi cuộc tấn công trong đêm nay. Khoảng 10 giờ đêm thì tôi được lịnh xử dụng một thiết vận xa di chuyển về phía đông QL 15 trên đường về Vủng Tàu ,để thăm dò con đường có đủ an toàn khi đơn vị di tản ,tôi một mình trong đêm đi được vài cây số thì nhìn thấy QL 15 bị phong tỏa bằng các cuộn kẻm gai , tôi mở đèn pha và lội bộ trước đầu xe để xem tình hình , trong ánh sáng của đèn xe tôi thấy một người lính Thủy Quân Lục Chiến gở một đoạn kẻm gai để đến gần tôi , anh cho tôi biết là trên đường quốc lộ đã được gài mìn chống chiến xa và vị trí phòng thủ của đơn vị TQLC bao bọc 2 bên bằng kẻm gai và mìn Claymore để tử thủ đến cùng, tôi báo cáo về chi đoàn biết tin và nhận lịnh nằm tại chổ chờ đến sáng hôm sau , suốt đêm tôi lo lắng, bâng khuâng không biết ngày mai sẻ ra sao , sau lưng tôi cả chi đoàn nằm trong vòng hiểm nguy của hàng ngàn quân thù với xe tăng và đại pháo, trước mặt tôi là hàng rào phòng thủ của người lính mủ xanh, những người hùng của mùa hè đỏ lửa 1972 ngày tôi mới vào lính , ôm súng trên phòng tuyến đợi quân thù ,nhìn về hướng tây trong ánh lữa bập bùng của hỏa châu và những cuộn khói lững thững trôi ở cuối chân trời , tôi biết chiến trận vẩn còn trong cao độ giửa các cánh quân còn lại của quân lực VNCH và CSBV , dựa lưng vào pháo tháp để tìm giấc ngủ vội vàng tôi chờ đợi ngày mai, như chờ đợi và chấp nhận số phận nào đã đưa tôi vào con đường chinh chiến hiểm nguy mà không còn lối thoát .
Trưa ngày 29 tháng 4 , chi đoàn di chuyển về hướng đông QL 15 , sau cuộc tiếp xúc của chi đoàn trưởng Đ/Úy Ngô duy Lượng và cấp chỉ huy của đơn vị TQLC , họ đã tháo gở mìn và chướng ngại vật trên đường quốc lộ cho đơn vị Thiết giáp và Nhảy dù vào Vũng Tàu , để lại sau lưng SĐ 3 CSBV trên đường truy đuổi, sau khi tu bổ cầu Cỏ May và đưa bộ binh vào xâm chiếm Vũng Tàu .Chi đội 2 đi trước, chi đội 1, kế đến BCH , chi đội 4 và chi đội 3 của tôi đi sau cùng , khi vào đến phố Vũng Tàu thì lực lượng đặc công và bộ binh của CSBV đã nằm phục kích , mở cuộc tấn công sau khi 2 thiết vận xa của chi đoàn di chuyển qua khỏi đầu phố , thiết vận xa sửa chửa của CĐ bị bắn cháy và cả đơn vị bị kẹt trên đường phố nhỏ hẹp không xoay trở được , tôi nhận lịnh mang 2 xe còn lại của chi đội 3 mở đường tấn công vào ổ phục kích của địch , khi di chuyển qua phần còn lại của chi đoàn ở đầu phố thì tôi thấy xe 06 nằm giửa đường vẩn còn bốc cháy , sau xe xác chết của Hạ sỉ Có , người lính kỵ binh thân quen của tôi ngày mới về đơn vị và xác 2 đồng đội khác nằm bên nhau , trên con đường chỉ còn máu lửa và nước mắt , tôi đi trước theo sau là xe số 34 , khai hỏa tất cả vủ khí còn đủ đạn dược , từ đại liên 50 ly, 30 ly , súng phóng lựu M79 , súng cá nhân M16 và Colt 45 , vừa di chuyển vừa bắn hai bên đường , cả đơn vị di chuyển trong tiếng đạn mịt mù qua khoảng 2 cây số mới đến Bến Đá , CSBV tiếp tục pháo kích trên đường di tản của Thiết giáp và Nhảy dù bằng đại pháo trên đường ra biển , tôi nhận lịnh rời xe và phá hủy các thiết vận xa trước khi ra bờ biển , tuy nhiên trong lúc gom góp đồ đạc vào ba lô và trong cơn mưa pháo kinh hồn, tôi lội bộ ra bờ biển tìm kiếm đồng đội mà không có cơ hội làm được điều đó, một số kỵ binh và binh sỉ nhảy dù đã bị thương và chết trên chặng đường nầy , tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm với một vài kỵ binh, tuy nhiên sau vài lần tìm cách nổ máy mà vẩn không thành công , nhìn ra trước mặt tôi thấy một chiếc xuồng khác chạy qua với một số đồng đội gọi tôi , tôi quay lại dặn dò Cần nhớ tìm tôi khi về Sài Gòn rồi tôi nhảy xuống biển để bơi ra khi chiếc xuồng nầy quay lại để kéo tôi lên , khi trời vừa sập tối tất cả kỵ binh còn lại của chi đoàn dời qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn , con tàu trực chỉ về tỉnh Gò Công trong đêm tối , mổi người riêng một ý tưởng , không ai nói chuyện gì với nhau , ai cũng có những nổi buồn canh cánh bên lòng và âu lo của những ngày sắp đến .
Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 , những kỵ binh còn sống sót sau trận chiến ở thị xã Bà Rịa của chi đoàn 2/15 TK ngồi trên chiếc tàu đánh cá đợi chờ tin tức từ trong đất liền , cho đến khi nghe tin T.T Dương văn Minh yêu cầu các binh sỉ bỏ súng và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện , Đ/Úy Lượng họp mặt tất cả kỵ binh để thăm dò ý kiến và cho phép mọi người được lựa chọn một trong hai con đường còn lại , một là đi về vùng IV chiến thuật hay ra đảo Phú Quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống cộng , hai là trở về để đầu hàng cộng sản và đoàn tụ với gia đình , khoảng 6 hay 8 người tôi không nhớ rỏ đã tình nguyện trở về với gia đình , đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi tiển đưa nhau , họ có an toàn trở lại với gia đình không ai biết , cũng như số phận của 36 người kỵ binh còn lại những tháng ngày sắp tới không biết về nơi đâu , Đ/Úy Lượng cho phép vài người vào bờ để mua sắm lương thực và chuẩn bị cho một cuộc hành trình về trên vùng vô định , tôi tình nguyện ở lại không biết có phải vì TỔ QUỐC , DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM hay không , tổ quốc tôi với hơn 20 năm trưởng thành và 3 năm dài chiến đấu đã không còn , danh dự và trách nhiệm của một sỉ quan đã làm tôi ray rức nhiều hơn hết , có lẻ đó là động lực duy nhất thúc đẩy tôi vào quyết định chiến đấu đến cùng , hay kinh nghiệm của những ngày ấu thơ ở Đại Lộc ,Quãng Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên trong vùng cộng sản chiếm đóng , chứng kiến sự tàn ác của chế độ cộng sản và cuộc đời chinh chiến đã để cho tôi nhìn thấy những đổ vở trên quê hương, do kẻ thù từ phương Bắc gây ra , nên tôi quyết định ra đi . Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 con tàu lên đường ra khơi , mang theo những kỵ binh còn sống sót trong trận chiến sau cùng của chi đoàn 2 số đỏ [ biệt danh cho CĐ 2/15 TK ], một thời oanh liệt trên chiến trường Tây Ninh , Hậu Nghỉa, Bình Dương , Biên Hòa và Long Khánh của vùng III chiến thuật , những con đường in vết xích qua chiến trường Kampuchia năm 1971 và 1974, nay chỉ còn là dấu chân của một thời trong dỉ vãng , con tàu trực chỉ về hướng đông , trước mặt chỉ có màu biển xanh và bầu trời rộng mở , sau lưng là hướng tây , đỏ rực màu nắng của bóng chiều lên khi mặt trời vừa xuống , đó cũng là hình ảnh sau cùng để tôi nhìn lại quê hương Việt Nam thân yêu, gia đình tôi không còn liên lạc từ ngày mất Đà Nẵng chắc không biết những gì xảy đến với tôi , tôi ra đi về một chốn lạ xa mà không biết có ngày trở lại , tương lai tôi như bóng tối đại dương mà con tàu đang dấn bước , trong bóng đêm mịt mùng chỉ còn nghe tiếng sóng vổ và từ phía chân trời xa có ánh đèn lấp lánh trong màn đêm , những ánh đèn trên chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ , cũng là ngọn hải đăng cho con tàu lưu lạc trong cơn bảo tố của quê hương , soi đường cho cuộc hành trình của 36 kỵ binh chi đoàn 2/15 TK về trên vùng đất mới .

Thiên Chương chi đoàn 2/15 TK mùa xuân 2009

Monday, March 23, 2009

Không như người chinh phụ .


Em không đan áo mùa đông
Như người chinh phụ gởi chồng năm xưa
Nên anh phiên gác chiều mưa
Poncho thấm lạnh đón đưa nổi sầu
Em không qua bến giang đầu
Như người chinh phụ qua cầu đắng cay
Nên anh nhớ lại những ngày
Tình ta đã chắp cánh bay mất rồi
Em không phai nhạt màu môi
Như người chinh phụ đơn côi đợi chồng
Nên anh buồn những đêm đông
Con đò thiếu khách bến sông vắng người
Em không khô héo nụ cười
Như người chinh phụ nhớ người đi xa
Nên anh những buổi chiều tà
Ngồi trên pháo tháp thương nhà nhớ quê
Em không gởi gấm câu thề
Như người chinh phụ buổi về đợi ai
Nên anh chiến trận miệt mài
Ngở ngàng định mệnh an bài nhớ em

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Saturday, March 14, 2009

Người em gái nhỏ .


Tôi có người em gái nhỏ
Nhẹ nhàng chân sáo bên thềm
Má em hồng như phượng đỏ
Rộn ràng biển nắng chiều êm

Từ khi tôi là lính chiến
Nẻo xa heo hút quân hành
Rừng không xanh màu nước biển
Nhưng cùng áo trận màu xanh

Tôi có người em tóc ngắn
Bên trường Nữ dáng ngây thơ
Thẹn thùng vành môi nhẹ cắn
Em buồn tóc cũng ngẩn ngơ

Từ khi tôi rời xa phố
Biên cương vang tiếng súng thù
Chiến xa về trong đạn nổ
Kiêu hùng lính trận biên khu

Tôi có người em gái nhỏ
Vắng tôi ai đón em về
Ở đây mưa rừng lộng gió
Nhớ em ngày buồn lê thê

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Monday, March 9, 2009

Để tưởng nhớ người hùng Biệt Kích Hoàng văn Hồng


Gia đình bên nội tôi ở thôn Mỹ Đông , phía nam sông Vu Gia và bên kia sông là quận lỵ Hà Nha, nằm về phía đông của quận Thường Đức. Vào khoảng năm 1950 cho đến năm 1952, quân đội Pháp đồn trú từ Ái Nghỉa , quận Đại Lộc di chuyển theo liên tỉnh lộ 14 về Hà Nha rồi vượt qua sông Vu Gia để truy lùng Việt Minh , đa số những cuộc ruồng bố nầy không đem lại kết quả khả quan cho quân đội viễn chinh của thực dân Pháp, lực lượng Việt Minh rút vào rừng sâu theo nhiều ngã đường về thôn Hiên và Giằng dưới chân rặng núi Trường Sơn, những người dân hiền lành ở đây cũng gánh gồng, gom góp tất cả những gì quí báu trong gia đình và con cái di tản vào trong rừng sâu. Chờ đợi quân đội Pháp rời khỏi làng thì trở về để xây dựng lại những đổ vỡ hoang tàn. Vì sau khi không tìm được lưc lượng Việt Minh , quân đội Pháp với đa số lính Lê Dương [người da đen ở Phi Châu] đốt nhà, tàn phá mọi xây cất còn tồn tại trên mặt đất và cưởng hiếp những người phụ nữ còn ở lại để bảo vệ tài sản gia đình hay chậm chân trên bước đường di tản. Mẹ tôi sinh ra và lớn lên ở làng Ái Nghỉa dưới quyền cai trị của người Pháp , lấy chồng về thôn Mỹ Đông sống dưới chế độ Việt Minh, những người mang chiêu bài chống Pháp để dành độc lập và tự do cho đất nước Việt Nam , từ đó mẹ tôi đôi lần cũng chạy vào rừng để trốn kẻ ngoại xâm , mổi lần ra đi mẹ tôi gánh trong đôi thúng một bên là cô Chín , con gái út trong gia đình và một bên là gạo mắm để nuôi sống gia đình trong những ngày chạy loạn chốn rừng sâu, một lần trên đường di tản chạy ngang thôn Mỹ Nam một gia đình nào đó đã bỏ lại một đứa bé trai mới sinh được vài tháng trên một thữa ruộng lúa mới trổ bông, bà nội tôi chỉ có ba tôi là một đứa con trai duy nhất, vừa trốn khỏi vùng kháng chiến để gia nhập quân đội Pháp, nên muốn có thêm một đứa con trai nuôi để mai sau có kẻ cận kề hôm sớm lúc tuổi già, mẹ tôi lại có thêm một người để lo lắng trong những ngày chạy loạn, từ đó mẹ tôi gánh một bên thúng có cô Chín và bên kia có chú Mười. Những ngày tôi lớn khôn bên quê nội , cho đến năm 1962 tôi có chú Mười sống bên cạnh tôi, những chiều đi tắm sông Vu Gia chú lấy giây mồng tơi cột vào cánh tay làm dây biểu chương và nhảy xuống bờ sông tưởng tượng như lính nhảy dù nhảy ra khỏi phi cơ. Chồng cô Tám của tôi đi lính Nhảy Dù và gia đình cô ở miền Nam, nên những hình ảnh của chồng cô gởi về đã làm chú Mười của tôi yêu cuộc đời thiên thần mủ đõ, như cánh hoa dù yêu bầu trời lộng gió và nuôi cơn mộng mai sau trở thành người lính Nhảy Dù.

Năm 1964 chiến cuộc lan tràn từ quận Thường Đức về tới quận Đại Lộc, gia đình tôi di chuyển về Đà nẵng , chú Mười vào Sài Gòn với gia đình cô Tám ở trại gia binh Nhảy Dù gần ngã tư Bảy Hiền, cho đến sau tết Mậu Thân chú Mười lên 18 tuổi trở về Đà Nẵng và gia nhập Lực Lượng Đặc Biệt trú đóng tại căn cứ LLĐB tại Thường Đức, sau khi CSBV tấn công căn cứ nầy tháng 10 năm 1968 thì chú Mười mất tích , bà nội tôi buồn rầu vô cùng , ba tôi là quân nhân của một Tiểu Đoàn Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 1 BB đồn trú tại Phú Bài, it khi có dịp về thăm nhà và chú Mười là đứa con nuôi mà bà nội tôi coi như con ruột không biết ra sao , bà chỉ biết nguyện cầu Trời Phật phù hộ và có ngày đứa con trai út của bà về đến gia đình bình an. Sau khi ăn Tết Kỹ Dậu 1969 , gia đình nhận được tin chú Mười trốn thóat trại giam của CSBV, vượt sông Côn về Thường Đức và được đưa về trại LLĐB ở gần Non Nước , Đà Nẵng . Tôi đưa bà nội tôi về đó để tìm chú Mười, chú trông rất ốm yếu và đang tịnh dưỡng chờ đơn vị điều tra về tin tức và nơi chốn của trại tù binh cộng sãn, còn giam giữ các chiến sỉ của LLĐB sau trận tấn công xâm chiếm căn cứ LLĐB ở Thường Đức . Vài tháng sau chú được đưa vào Nha Trang , huấn luyện nhảy toán theo lời của chú qua những lá thư gởi về gia đình, mùa hè năm 1969 chú tôi trở lại Đà Nẵng đóng quân ở trại LLĐB gần Ngũ Hành Sơn, Non Nước .

Mổi lần xong công tác chú về nhà vài hôm, chú Mười ngày xưa bây giờ là Lê duy Lương, người lính Biệt Kích với chiếc mũ xanh và bộ đồ rằn ri, mang phù hiệu con cọp với cánh dù và tia sét trông rất oai hùng và đầy phong độ, những lần trở về với gia đình chú thường kể cho tôi nghe câu chuyện của những đêm toán biệt kích của chú nhảy vào trong rừng núi Trường Sơn, di chuyễn như bóng ma trong đêm tối mịt mù , trong cái chết đợi chờ từng giây phút, những cuộc đụng độ kinh hồn của một toán biệt kích với hàng trăm CSBV truy đuổi khi lộ diện. Tôi đang học lớp 10 và tình thế sôi động của cuộc chiến không biết lúc nào tôi sẻ vào quân ngủ , tôi lớn lên trong không khí chiến tranh của miền Trung máu lữa và những huyền thoại của người lính Biệt Kích oai hùng, do chú tôi kể lại. Tôi vào quân ngũ mùa hè đỏ lữa 1972 mang giấc mộng anh hùng như chú Mười của tôi nhưng không bao giờ thành đạt, tôi và chú Mười không còn gặp nhau từ đó, qua trang thư thăm viếng gửi cho tôi trên vùng chiến trận của quân khu III, tôi vẩn hình dung được người lính Biệt Kích mủ xanh và những đêm dài trong rừng sâu theo dỏi bước giặc thù. Tôi đi qua cơn mưa đầu mùa tháng sáu ở miền nam , nhưng không làm sao so sánh được cơn mưa rừng của Trường Sơn mùa giá buốt mà chú tôi từng chịu đựng, tôi đi qua chiến trường máu lữa Đức Huệ , Khiêm Hanh ,Tây Ninh, Long Khánh và Quốc lộ 13 về Lai Khê , An Lộc , nhưng không bằng những bóng ma biên giới lặn lội trong hiểm nguy của những người Biệt Kích anh hùng .

Qua những lần liên lạc với anh Phạm Hòa của hội ái hữu Đồng Đế, tôi được xem hình ảnh của anh Hoàng văn Hồng đoàn công tác 71, tôi nhận diện được nét hào hùng của người lính Biệt Kích ngày xưa, anh Hồng làm tôi nhớ chú tôi Lê duy Lương người lính mũ xanh của LLĐB ngày xưa, nhớ câu chuyện các anh trong những đêm âm thầm đi vào lòng đất địch, những hành động anh hùng của các anh làm tôi trở nên một chiến sỉ tầm thường, tôi không gan dạ như các anh coi thường hiểm nguy theo sát bên mình với một vài đồng đội dỏi bước kẻ thù, tôi không can đảm như các anh lặn lội chốn rừng sâu heo hút, không có ngày về an toàn bên người thân bè bạn. Nghe tin anh ra đi hôm nay, như những bạn bè anh đã ra đi ngày xưa trong cuộc chiến bảo vệ quê hương, tôi thấy lòng bùi ngùi, xúc động, không có ngôn từ nào diển tả hết nổi đau thương của những người thân và bè bạn mến yêu còn lại trên cỏi đời nầy. Tôi cầu xin anh một đời bình an trên thiên đường hạnh phúc và gởi anh lời cám ơn chân thành cho những tháng năm dài hi sinh cuộc đời son trẻ, để gìn giữ mảnh đất quê hương Việt Nam ngàn đời yêu dấu của chúng ta .

Lê Chiến Chi Đoàn 2/15 TK LĐ III KB